Thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích
Xuất phát từ hệ quả của
việc tuyên bố một người là mất tích có thể ảnh hưởng đến nhiều chủ thể cũng như
nhiều quan hệ pháp luật phát sinh, quy định pháp luật quy định chỉ chấp nhận giải
quyết yêu cầu giải quyết việc dân sự này nếu chúng đáp ứng một số điều kiện nhất
định. Nhằm đảm bảo tránh tình trạng lợi dụng trục:
·
Khi một người biệt tích 02 năm liền trở
lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của
pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người
đó còn sống hay đã chết. Theo đó việc tính thời hạn 02 năm được tính từ ngày biết
được tin tức cuối cùng của người đó. Trong trường hợp không xác định được ngày
có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp
theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức
cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có
tin tức cuối cùng.
·
Việc giải quyết việc dân sự không phát
sinh một cách tự động mà phải theo yêu cầu và có đơn yêu cầu của người có quyền,
lợi ích liên quan. Với tư cách là người có quyền, lợi ích liên quan có thể cho
phép khẳng định không phải mọi chủ thể đều có quyền yêu cầu tuyên bố một người
mất tích. Mà theo đó “người yêu cầu giải
quyết việc dân sự là người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự
kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia
đình,…của mình”
![]() |
| Điều kiện tuyên bố một người bị mất tích |
2
Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người là mất tích?
Giai đoạn nộp đơn:
Người có quyền, lợi ích
liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định của
Bộ luật dân sự. Theo đó Đơn yêu cầu được ban hành theo mẫu kèm theo Nghị quyết
04/2018/NQ-HĐTP.
Kèm theo đơn, người yêu cầu
phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã
biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn
sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện
pháp thông báo tìm kiếm;…
Thực tiễn xét xử, Tòa án
chấp nhận các tài liệu này có thể được các đương sự thu thập thông qua bằng sự
xác nhận từ các cơ quan chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân cấp xã, Tổ trưởng
Tổ dân phố, các cơ quan khác ở địa phương hoặc thông qua các chứng từ, tài liệu,
chứng cứ chứng minh cho việc gia đình đã thông báo qua các phương tiện truyền
thông đại chúng về việc tìm kiếm người bị mất tích.
Giai đoạn xét đơn yêu cầu:
·
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý
đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm
người bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu
tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên.
·
Trong thời hạn thông báo, nếu người bị yêu
cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu
thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất
tích.
·
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết
thúc thời hạn thông báo quy định tại khoản 2 Điều này thì Tòa án phải mở phiên
họp xét đơn yêu cầu.
Giai đoạn ra quyết định:
Trong trường hợp đã áp dụng
các biện pháp trên, Tòa án sẽ chấp nhận đơn yêu cầu và ra quyết định tuyên bố một
người mất tích; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản
của người bị tuyên bố mất tích đó và được chấp nhận thì trong quyết định tuyên bố
một người mất tích, Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản
của người đó theo quy định của Bộ luật dân sự.
Quyết định của Tòa án
tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú
cuối cùng của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú theo quy định của pháp luật
về hộ tịch.
![]() |
| Trình tự, thủ tục để tuyên bố một người bị mất tích |
3
Thẩm quyền tuyên bố một người bị mất tích
Thẩm quyền theo cấp:
Theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án nhân
dân cấp huyện sẽ có thể quyền giải quyết tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên
bố một người mất tích.
Thẩm
quyền theo lãnh thổ: Theo Điều 39 BLTTDS 2015 thẩm quyền giải
quyết việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích của Tòa án theo lãnh thổ được
xác định là Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư
trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích. Đồng thời, Tòa án đã ra quyết định tuyên bố
một người mất tích có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố
một người mất tích.
![]() |
| Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích |
4. Hủy bỏ quyết định tuyên bố một người
bị mất tích.
Tòa án sẽ ra quyết định hủy
bỏ trong trường hợp không còn đầy đủ các căn cứ áp dụng quyết định việc tuyên bố
một người mất tích: Khi người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc có tin tức xác
thực là người đó còn sống. Việc yêu cầu Tòa án hủy có thể là người đó hoặc người
có quyền, lợi ích liên quan.
Trường hợp Tòa án chấp nhận
đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất
tích, trong đó phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc hủy bỏ quyết định
tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự. Cụ thể:
·
Người bị tuyên bố mất tích trở về được nhận
lại tài sản do người quản lý tài sản chuyển giao sau khi đã thanh toán chi phí
quản lý.
·
Trường hợp vợ hoặc chồng của người bị
tuyên bố mất tích đã được ly hôn thì dù người bị tuyên bố mất tích trở về hoặc
có tin tức xác thực là người đó còn sống, quyết định cho ly hôn vẫn có hiệu lực
pháp luật.
Quyết
định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích phải được gửi cho
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị tuyên bố mất tích để ghi chú
theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Trên
đây là toàn bộ nôi dung bài viết về chủ đề Thủ tục yêu cầu tuyên bố
một người mất tích. Mọi thắc mắc quý bạn đọc vui lòng liên hệ hotline 0394895768
để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.



Nhận xét
Đăng nhận xét